Di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết (Điều 624 BLDS). Như vậy, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân, pháp luật tôn trọng và bảo vệ ý chí tự nguyện của cá nhân. Tuy nhiên di chúc chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc và sau khi người lập  di chúc qua đời. Trong di chúc, người lập di chúc có toàn quyền trong việc định đoạt di sản cũng đưa ra các điều kiện nhất định cho người thừa kế.

  1. Đối tượng được hưởng thừa kế theo di chúc

– Là cá nhân, tổ chức được chỉ định là người hưởng thừa kế trong di chúc

– Riêng những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

+ Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

+ Con thành niên mà không có khả năng lao động;

  1. Thời điểm hưởng thừa kế theo di chúc

Người để lại di chúc đã qua đời và di chúc đó hợp pháp, những người có tên trong di chúc có đủ điều kiện nhận di sản thừa kế theo di chúc và họ không từ chối nhận di sản.

  1. Di chúc hợp pháp

v  Quy đinh về độ tuổi người lập di chúc ( Điều 625 BLDS)

– Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của BLDS có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

–  Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

v  Quyền của người lập di chúc (Điều 626)

–  Chỉ định người thừa kế.

–  Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

–  Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

–  Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

–  Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

v Hình thức Di chúc

Di chúc được lập thành văn bản hoặc có thể bằng di chúc miệng đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.

v Di chúc hợp pháp

  • Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

+ Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

–    Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

–    Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

–    Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định

Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

  1. Hiệu lực pháp luật của di chúc

–  Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

–  Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

+  Người thừa kế theo di chúc mất trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc;

+  Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người mất trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

–   Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

–   Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

–   Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Trường hợp, đối với hiệu lực pháp luật của Di chúc chung của vợ, chồng thì có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng qua đời hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng mất.

Sản Phẩm Liên Quan